info@luatminhanh.vn

Luật Minh Anh

Minh Anh Law Firm

Công ty có vốn nước ngoài có thể sở hữu đất tại Việt Nam không?

✅ Công ty có vốn nước ngoài có thể sở hữu đất tại Việt Nam không? Đây là câu hỏi mà không ít nhà đầu tư nước ngoài đang băn khoăn khi tìm hiểu về môi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam. Trong khi Việt Nam luôn mở cửa đón nhận các nguồn vốn đầu tư quốc tế, thì vấn đề sở hữu và sử dụng đất đai lại là một trong những yếu tố pháp lý quan trọng cần được làm rõ. Dù đất đai tại Việt Nam theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu toàn dân, nhưng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài vẫn có thể tham gia vào việc sử dụng đất, với những điều kiện và hạn chế nhất định. Vậy các quy định về quyền sử dụng đất đối với các doanh nghiệp này là gì, và liệu họ có thể sở hữu đất hay không? Bài viết này sẽ làm rõ các vấn đề liên quan đến câu hỏi” Công ty có vốn nước ngoài có thể sở hữu đất tại Việt Nam không?”

Công ty có vốn nước ngoài có thể sở hữu đất tại Việt Nam không?

Công ty có vốn nước ngoài có thể sở hữu đất tại Việt Nam không?

+ Căn cứ theo Luật Đất đai 2024, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Điều này có nghĩa là, đất đai tại không thuộc quyền sở hữu của tổ chức hay cá nhân, bao gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài, mà chỉ có quyền sử dụng đất.Việt Nam Theo quy định của pháp luật hiện hành, không có quy định về việc công ty có vốn đầu tư nước ngoài được sở hữu đất ở Việt Nam.

+ Điều 4 Luật Đất đai 2024 quy định về các đối tượng là người sử dụng đất tại Việt Nam bao gồm:

  • Các tổ chức trong nước;
  • Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;
  • Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam;
  • Cộng đồng dân cư;
  • Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao;
  • Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;
  • Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Khoản 1 Điều 28 Luật Đất đai 2024 quy định về người nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể như sau:

Điều 28. Nhận quyền sử dụng đất

1. Người nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:

[…]

c) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao;

d) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ;

đ) Tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất;

[…]”

+ Đồng thời, khoản 8 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định về các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất. Theo đó, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà pháp luật không cho phép nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất.

+ Công ty có vốn nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam trong trường hợp đó là đất trong khi công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao. Ngoài ra, công ty có vốn đầu tư nước ngoài cũng được phép nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.

+ Như vậy, Luật Đất đai 2024 đã quy định rõ về quyền sử dụng đất của các tổ chức nước ngoài, bao gồm quyền thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc nhận quyền sử dụng đất từ các cá nhân, tổ chức trong nước. Tuy nhiên, quyền này không bao gồm quyền sở hữu đất. Hay nói cách khác, công ty có vốn đầu tư nước ngoài không được sở hữu đất ở Việt Nam, mà chỉ có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Công ty có vốn đầu tư nước ngoài được nhận quyền sử dụng đất thông qua hình thức nào?

+ Theo quy định tại Điều 28 của Luật Đất đai 2024, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có thể nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam thông qua các hình thức sau đây:

– Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao:Các tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài được phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các khu vực đặc thù như khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, nhằm thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh. Đây là một hình thức thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài, giúp họ có quyền sử dụng đất lâu dài trong các khu vực phát triển công nghiệp, góp phần vào việc thúc đẩy đầu tư và sản xuất tại các khu vực trọng điểm kinh tế.

– Nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất: Tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài có thể tham gia vào việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua việc mua lại vốn đầu tư, trong đó một phần giá trị của khoản vốn này sẽ bao gồm giá trị quyền sử dụng đất. Điều này giúp các tổ chức nước ngoài có thể tham gia vào các dự án đã được đầu tư trước đó và sở hữu quyền sử dụng đất của các dự án đó.

– Nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất: Tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài có thể nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong các dự án đầu tư. Đây là hình thức mà các bên tham gia góp vốn để phát triển dự án, trong đó quyền sử dụng đất là một phần tài sản góp vốn.

+ Như vậy, Điều 28 Luật Đất đai 2024 mở rộng các hình thức mà tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài có thể nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam, từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các khu công nghiệp, khu công nghệ cao đến việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Mặc dù các doanh nghiệp nước ngoài không được sở hữu đất đai, nhưng các quy định này tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ trong việc tham gia vào thị trường đất đai và thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam.

✅ Luật Minh Anh vừa chia sẻ kiến thức “Công ty có vốn nước ngoài có thể sở hữu đất tại Việt Nam không?” – một vấn đề pháp lý quan trọng mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI đặc biệt quan tâm. Trên cơ sở quy định của pháp luật đất đai hiện hành, doanh nghiệp có vốn nước ngoài không được sở hữu đất theo nghĩa quyền sở hữu tuyệt đối, mà chủ yếu thực hiện quyền thuê đất, thuê lại đất hoặc sử dụng đất thông qua dự án đầu tư theo đúng điều kiện, trình tự pháp luật quy định. Việc hiểu đúng và áp dụng đúng sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn pháp lý trong quá trình đầu tư, sản xuất – kinh doanh tại Việt Nam.

Rate this post