Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có được không?
✅ Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là vấn đề được nhiều cặp vợ chồng quan tâm khi có nhu cầu xác lập rõ quyền sở hữu tài sản hoặc phục vụ hoạt động đầu tư, kinh doanh riêng. Theo quy định của pháp luật, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoàn toàn có thể được thực hiện nếu đáp ứng các điều kiện luật định và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình cũng như các bên liên quan. Việc hiểu đúng quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có được không? sẽ giúp vợ chồng đưa ra quyết định phù hợp, hạn chế rủi ro và tranh chấp phát sinh trong quá trình chung sống.

Nhằm đáp ứng nguyện vọng của một số khách hàng, Chúng tôi xin hướng dẫn quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật như sau:
1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu, cụ thể:
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
– Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;
– Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
– Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;
– Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;
– Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;
– Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014















